Tên đề tài:
Vài kinh nghiệm trong công tác phụ đạo
cho học sinh chậm tiếp thu ở lớp 1
môn Học vần
I/ĐẶT VẦN ĐỀ:
a) Mục tiêu:
Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành
những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn
và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để
học sinh tiếp tục học lên lớp trên. Giáo dục Tiểu học Thành phố Hồ Chí Minh
phải thật sự là niềm tin của xã hội. Người cán bộ quản lý là phải đi đầu trong
việc vận dụng quan điểm: ‘‘Đổi mới căn bản toàn diện, Giáo dục và Đào tạo.” Bản
thân mọi người làm công tác giáo dục phải tự điều chỉnh, đổi mới phương pháp
dạy, làm viêc, hình thức tổ chức...Và cũng để tổng hợp đánh giá quá trình học
tập từng môn cuối năm cho những em học sinh chậm tiếp thu ở lớp 1 đạt hiệu quả,
đúng với thông tư 30. Điều này làm cho
tôi suy nghĩ để nâng chất lượng, đồng thời cũng theo dõi đánh giá kịp thời,
chính xác đối với học sinh chưa hoàn
thành trong đánh giá quá trình học tập môn Học vần lớp 1. Mặt khác học sinh
thích đi học, hằng ngày vui vẻ đến trường mong được gặp thầy, gặp bạn...hết sợ
đến trường cũng là niềm vui của tôi và phụ huynh khi thấy các em luôn nở nụ
cười trên môi.
Việc đánh giá cuối năm với học sinh hoàn
thành chương trình lớp học một cách hiệu quả mà hạn chế xét các em chưa hoàn
thành. Chính vì mong muốn học sinh lớp 1 hoàn thành chương trình lớp 1 được nhẹ nhàng, giáo
viên và phụ huynh bớt đi lo âu, áp lực với những đối tượng học sinh chậm tiếp
thu mà đạt được yêu cầu để lên học lớp 2 nên tôi đã chọn đề tài này.
b) Cơ sở lí luận:
Theo khoa học thì mỗi con người là một thực thể
sống rất đa dạng và phong phú. Có trẻ thì thông minh, trẻ thì hiếu động, trẻ
thì nhút nhát, trẻ nhanh nhạy, trẻ thì chậm chạp... Mỗi trẻ được sinh ra là lớn
lên trong môi trường và được chăm khác nhau thì tâm sinh lý trẻ khác nhau không
trẻ nào giống trẻ nào.
Ngôn ngữ nhân loại, ngay từ những ngày đầu sơ khai của xã hội loài người,
đã hình thành và ngày càng phát triển. Nó chính là công cụ giao tiếp vô cùng
quan trọng trong đời sống hàng ngày của con người, mà con người là sự tổng hoà
của các mối quan hệ xã hội. Chúng ta phải công nhận tiếng Việt rất giàu và đẹp.
Lời hay - ý đẹp đã có sẵn trong tiếng Việt và ngày càng phát triển. Chúng ta
không lấy thế làm thoả mãn mà cần có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng
Việt. Chúng ta thường bắt trẻ học theo ý định người lớn mà chưa thực sự hiểu
trẻ gây tâm lý không tốt cho trẻ mới vào lớp 1 nói riêng và ở Tiểu học nói
chung.
Việc giúp học sinh lớp Một học yếu trong môn Học vần học được từ, tăng
nhanh vốn từ, hiểu nghĩa từ và tiến tới nói đúng, nói hay là vô cùng cần thiết.
Vì nhờ đó mà các em sẽ không gặp khó khăn khi học môn ngữ pháp và tập làm văn,
toán... ở các lớp học trên.
Đối tượng học sinh của tôi ở đây là học sinh chậm tiếp thu học yếu lớp Một.
Ở lứa tuổi này khả năng tập trung chú ý của trẻ chưa cao, tư duy chưa phát
triển nên việc bồi dưỡng vốn từ cho các em ở giai đoạn này rất khó khăn. Ở đây,
trong giới hạn đề tài, xin được trình bày một số biện pháp tôi đã sử dụng để
giúp trẻ học yếu nắm yêu cầu cần đạt qua một vài kinh nghiệm trong công tác phụ
đạo môn Học vần cho học sinh yếu lớp 1, trọng
tâm là giúp các em nhớ hết âm, vần để đọc trơn.
II/ THỰC TRANG:
Qua 7 năm, tôi làm công tác quản lí chuyên môn
tại trường Tiểu học Lê Công Phép quận Bình Tân. Tôi nhận thấy rằng đây là một
trường hợp trong những trường hợp mà bản thân tôi phải suy nghĩ nhiều: Một học
sinh lớp 1 vào lớp hay ngủ gật, thân hình ốm yếu, quần áo lôi thôi, tập vở
thiếu, bộ sách giáo khoa cũng không có,
hay nghỉ học... thì chúng ta đã đoán biết kết quả việc học của bé sẽ không được
tốt. Vì vậy cô giáo chủ nhiệm gặp phụ huynh để trao đổi nhằm có biện pháp để em
học tốt hơn là việc làm cần thiết. Nhưng không hiểu sao khi giáo viên vừa trò
chuyện với phụ huynh thì kết quả bé bị một bạt tay tại chỗ cộng với lời dạy
con:‘‘Tại sao, mày để cô méc tao!”. Mặt khác, trong thực tế cũng có rất nhiều
nguyên nhân: ba mẹ bỏ nhau, ba mẹ không biết chữ, trẻ chậm phát triển trí
não...thì phải ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ rất nhiều. Mới đây khi thấy
vài học sinh học chậm tiếp thu, tôi đã gặp các em ở giờ chơi để tìm hiểu thì
lòng tôi lại quặn đau, tim tôi như thắc lại bởi vì em nói rằng: Con sống với
bà, cha mẹ con đã bỏ con khi con vừa mới sinh ra; Ba con mất, mẹ đi làm xa con
ở với chị...
Nhiều hoàn cảnh và nhiều nguyên nhân phân tích
trên thì dẫn đến kết quả học tập: có trẻ rất giỏi, có trẻ thông minh, có trẻ cần
cố gắng, có trẻ thụ động... là vấn đề tất nhiên. Từ đó, tôi đã tìm hiểu, suy
nghĩ và nhận thấy học sinh lớp 1 học chưa hoàn thành môn học với nhiều lý do mà
cần khắc phục với những nguyên nhân sau là chủ yếu:
1. Trẻ
còn khuyến khuyết về thể chất.(sức khỏe)
2. Tư
duy còn hạn chế. (trí não)
3. Phụ
huynh thiếu quan tâm.
4. Hoàn
cảnh gia đình.
5. Đội
ngũ giáo viên còn hạn chế về chuyên môn, không đồng đều.
6. Lớp học đông.
Thuận lợi:
- Có sự hỗ trợ của chuyên viên Phòng Giáo dục, Hiệu trưởng nhà trường,
tập thể nhà trường về biện pháp, kinh nghiệm và điều kiện thực hiện đề tài.
- Có đội ngũ giáo viên nhiệt
tình, tâm huyết với nghề.
- Đa số học sinh ham thích học.
III/ HƯỚNG GIẢI QUYẾT ĐỀ TÀI: (3 giai đoạn)
+ Giai đoạn 1:
Phân loại học sinh chậm tiếp thu,
cần cố gắng:
- Lần thứ nhất, dự họp tổ chuyên môn đầu năm qua
2 tuần đầu giảng dạy, tôi đưa ra vấn đề học sinh chậm tiếp thu, cần cố gắng ở
lớp 1 lên hàng đầu. Giáo viên trong khối báo cáo từng lớp, từng em cho khối
nắm, cho Ban giám hiệu biết về tình hình của lớp mình. Sau đó, giáo viên tự đưa
ra biện pháp khắc phục, còn tổ khối, phó Hiệu trưởng hỗ trợ kinh nghiệm thêm để
thực hiện.
- Lần thứ hai, họp tổ chuyên
môn lần này tôi theo dõi phần báo cáo thực hiện như thế nào rồi đưa vấn đề học
sinh yếu ra trao đổi, phân tích lí do yếu, tại sao yếu ( cha mẹ không quan tâm,
bé lười không muốn học, sức khoẻ yếu,
chậm phát triển...).
- Lần thứ ba, tôi họp với tổ
chuyên môn nắm lại tình hình trên và sau đó cùng với giáo viên ở giai đoạn này là:
Chúng ta cố nắm tình hình các em học sinh qua tiếp xúc phụ huynh, giờ dạy
trên lớp qua 5 tuần giáo viên chủ nhiện lập danh sách học sinh cần cố gắng,
chậm và theo không kịp bạn bè trong lớp về học tập để có kế hoạch phụ đạo cho
các em nếu không thì các em sẽ có nguy cơ không hoàn thành chương trình lớp học
hoặc bỏ học.
Mặt
khác, giáo viên phối hợp cùng với phụ huynh: giáo viên phô tô bảng chữ cái
gởi phụ huynh hướng dẫn thêm các em học ở nhà. Hằng ngày,
vào giờ truy bài, giáo viên tổ chức cho các em ôn trên bảng lớp âm và vần.
+Giai đoạn 2:
Lên kế hoạch phụ đạo:
Phần việc này tự tôi phải suy nghĩ thực
hiện, liên hệ giáo viên, phụ huynh và tùy vào điều kiện mà lên kế hoạch phụ đạo.
Tôi họp tổ chuyên môn bàn bạc thống
nhất giáo viên rồi gởi danh sách học sinh cần phụ đạo cho tôi. Cũng từ đây, tôi
chốt danh sách học sinh là đối tượng nào để lên kế hoạch phụ đạo học sinh chậm
tiếp thu, cần cố gắng cho mình. Sau đó, tôi trình kế hoạch lên Hiệu trưởng ký duyệt
để thực hiện.
+Giai đoạn 3:
Thực hiện kế hoạch phụ đạo:
Sau khi kế hoạch được duyệt thì tôi dạy phụ đạo học sinh với số lượng là
10 em / 3 lớp (một buổi). Thời gian dạy 2 tiết/ buổi ( thứ 4 và thứ 6 / tuần).
Giáo viên dạy phải điểm danh buổi dạy theo dõi
học sinh. Đồng thời giáo viên dạy theo dõi luôn học sinh nào nắm được nội dung
đã dạy, học sinh nào chưa nắm nội dung đã dạy vào một danh sách sau:
*Về Đọc:
DANH SÁCH THEO DÕI PHỤ ĐẠO HỌC SINH VỀ
ĐỌC
|
STT
|
HỌ VÀ TÊN HS
|
Lớp
|
a
|
ă
|
â
|
b
|
c
|
D
|
...
|
Ghi chú
|
|
01
|
Nguyễn Thị Bé Ngọc
|
1.5
|
+
|
+
|
+
|
-
|
+
|
+
|
|
Hay quên, không nhớ.
|
|
02
|
Lê Thị Kiều Trân
|
1.5
|
+
|
-
|
+
|
-
|
+
|
-
|
|
Hay
quên, không nhớ, ngọng
|
|
03
|
Nguyễn Hồng Ngân
|
1.5
|
+
|
+
|
-
|
+
|
+
|
+
|
|
Hay quên, không nhớ.
|
|
04
|
Nguyễn Văn Quốc
|
1.6
|
+
|
+
|
-
|
+
|
-
|
-
|
|
Hay
quên, không nhớ, không tập trung, nghỉ nhiều.
|
|
05
|
Hồng Minh Anh
|
1.6
|
+
|
-
|
+
|
+
|
+
|
-
|
|
Hay quên, không nhớ, không tập trung.
|
|
06
|
Phan Hiệp Tấn Phúc
|
1.6
|
+
|
+
|
+
|
+
|
-
|
+
|
|
Hay quên, không nhớ, không tập trung.
|
|
07
|
Huỳnh Khánh Duy
|
1.7
|
+
|
-
|
+
|
+
|
+
|
+
|
|
Hay quên, không nhớ, không tập trung.
|
|
08
|
Lê Hoàng Nhân
|
1.7
|
+
|
+
|
+
|
+
|
+
|
-
|
|
Hay quên, không nhớ, không tập trung.
|
|
09
|
Nguyễn Văn Thanh
|
1.7
|
+
|
-
|
+
|
-
|
+
|
+
|
|
Hay quên, không nhớ, không tập trung.
|
|
10
|
Nguyễn Thị Nhiều
|
1.7
|
+
|
+
|
+
|
+
|
+
|
-
|
|
Hay quên, không nhớ, ngọng
|
Ghi chú : Bảng danh sách trên:
·
Dấu - là học
sinh chưa nắm được âm đó.
·
Dấu + là học
sinh đã nắm được âm đó.
Khi nào học sinh học phụ đạo chưa nắm được nội
dung học thì không được dạy tới mà phải phối hợp giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh
học sinh tiếp tục dạy em cho đến ngày sau phụ đạo dạy tiếp chừng nào đạt mới
thôi. Khi đó, giáo viên sửa vào bảng theo dõi dấu – thành + cứ như thế dạy hết
âm đến vần và hết vần đến tiếng.....cho đến khi nào đạt yêu cầu thì thôi.
Tôi dạy hết âm đến vần rồi ghép tiếng cho đến khi các em đọc được.
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HỖ TRỢ:
Sau khi, tôi tìm hiểu và làm quen thì các em có điểm chung là chậm nhớ
nhưng mau quên hay nghỉ học ở lớp. Tôi liền vận dụng cách dạy của mình.
1/ Một số cách (mẹo) giúp các em nhớ được âm mà tôi thực hiện với học sinh:
- Dạy o, ô, ơ (o tròn như quả trứng gà, ô thì đội nón, ơ thì có râu...)
- Dạy âm a thì gắn liền với câu:
Khi thấy mẹ đi chợ về có mua quà, thì em rất mừng và nói thế nào? ‘‘ a, mẹ đi chợ về ”.
- Dạy âm kh thì gắn với câu
chuyện Anh Chành Khờ trong chuyện cổ dân gian.

- Dạy âm c vẽ lá cờ, âm k vẽ cái
ca...
- Ngoài ra tôi còn vẽ hình vào chữ ☺
đây là ô hay u cái vẽ cái lu...
- Dạy các em hát khi dạy chữ v :
Một con vờ xòe ra 2 cái cánh ....
Lưu ý: Giáo viên dạy học sinh tiếp thu được thì phải thông qua những gì gần gũi nhất đối
với các em bằng nhiều hình thức.
2/ Một số cách giúp các em thích học và hợp tác chia sẽ khi học:
- Học bất cứ lúc nào, học ở mọi nơi.
- Em biết nhiều dạy em biết ít.
- Em biết biết ít dạy em không biết.
-Vừa học vừa chơi.
-Học để được khen...
Tóm lại khi dạy cho đối tượng học sinh này thì chúng ta phải luôn tìm mọi
cách, mọi phương pháp làm thế nào các em nhớ được âm là thành công, nếu các em
không nắm thì chớ nản lòng mình phải tiếp tục suy nghĩ tìm cái gì đó để dạy
hoặc dạy kể cả lúc đi chơi, khi trò chuyện...Trong viêc dạy học, chúng ta cũng
luôn tìm cách khen gợi động viên các em dù 1 việc rất nhỏ nhưng đối với các em
đó là niềm vui lớn.
Tôi thấy việc làm này thật sự có ý nghĩa và có kết quả trong việc hạn chế số
lượng học sinh lớp 1 chưa hoàn thành chương trình lớp học. Qua đó, tôi còn hiểu
các em nhiều hơn về hoàn cảnh, sức khỏe, tính tình…Tôi thật vui và hạnh phúc
khi nghe được chính miệng các em này nói: Nhờ thầy Hà dạy mình, mà mình đã đọc
được!” Đây là kết quả, nguồn động lực vô cùng lớn để tôi tiếp tục sự nghiệp của
mình mà không thấy mệt mỏi.
Một số
hình ảnh học sinh đang được tôi phụ đạo:
1.
Nhóm học sinh phụ đạo:

2. Học sinh chơi trò chơi về con chữ: (ôn luyện các âm)

3. Em biết nhiều dạy em biết ít:

* Về Viết:
- Yêu cầu học sinh học đến đâu thì luyện viết đến đó để dễ nhớ.
- Học sinh chỉ viết trong lớp: Viết từ số lượng ít đến số lượng nhiều,
không đặt nặng đến viết đẹp chỉ yêu cầu viết đúng nét của chữ viết. Học sinh viết để đọc được.
IV/ KẾT QUẢ THỰC
HIỆN :
KẾT QUẢ KIỂM TRA TIẾNG VIỆT LỚP 1
|
LOẠI
|
Năm 2012-2013
|
Năm 2013-2014
|
Năm 2014-2015
(tháng 12/2014)
|
|
Số lượng
|
Tỉ lệ
|
Số lượng
|
Tỉ lệ
|
Số lượng
|
Tỉ lệ
|
|
HT
|
144
|
98,53%
|
181
|
98,83%
|
240
|
94,11%
|
|
Chưa HT
|
2
|
1,47%
|
2
|
1,17%
|
15
|
5,88%
|
|
T cộng
|
146
|
|
183
|
|
255
|
|
Qua cách làm trên và kết hợp với các biện
pháp, tôi đã thấy các em có sự tiến bộ nhiều và bước đầu thấy các em thích đi
học hơn lúc trước. Đồng thời kết quả theo dõi chất lượng học sinh cho thấy số
lượng chưa đạt về Tiếng Việt cũng giảm nhiều. Chính vì vậy, tôi đã thu được một
số kết quả chủ yếu trong thực hiện như sau: Học sinh được phụ đạo nắm được nội
dung phụ đạo theo yêu cầu của nhà trường. Các em học yếu ham thích đi học, vui
vẻ và tự tin hơn khi đến trường. Cuối năm học tôi nghĩ việc đánh giá hoàn thành
chương trình lớp học cùng giáo viên cho những học sinh chậm, cần cố gắng sẽ hiệu
quả hơn.
V/BÀI HỌC KINH
NGHIỆM:
Trên
cơ sở thực hiện những sáng kiến kinh nghiệm của đồng nghiệp, của bản thân, của giáo
viên có liên quan đến giảng dạy ở lớp 1. Ở giới hạn đề tài này, tôi đưa
ra một số việc làm của mình với mục đích làm cho các em học sinh chậm tiếp thu,
cần cố gắng nắm được bài học để tự tin đi học, thích đi học, giúp tôi trong công tác quản lý và phụ đạo học
sinh yếu môn học vần lớp 1 với những bài học kinh nghiệm sau:
- Giáo viên phải tự tin mình chính là
người kỹ sư tâm hồn.
- Tất cả, giáo viên làm việc bằng một
cái tâm, hết lòng thương yêu học sinh. Mỗi người giáo viên chính là chỗ dựa của
các em khi đến trường.
- Giáo viên phải luôn tìm hiểu, lắng
nghe các em để suy nghĩ lựa chọn biện pháp thích hợp nhất.
- Là quản lý phải biết thuyết phục đội
ngũ giáo viên để giáo viên hỗ trợ hết mình trong công tác phụ đạo học sinh.
Trên
đây là một số kinh nghiệm trong công tác quản lý, hỗ trợ giáo viên mà tôi đã
thực hiện để giúp học sinh yếu trong môn học vần lớp 1.
Mong được sự góp ý của lãnh đạo và các đồng
nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Ngày 05/12/2014
HỒ HỮU HÀ